Những bệ đỡ vững chắc cho tăng trưởng hai con số
Những bệ đỡ vững chắc cho tăng trưởng hai con số
Số hóa thuế: Cơ hội mở rộng thị trường của ngân hàng
Cách mạng xanh ngành ngân hàng - Sứ mệnh bền vững
Vietcombank tiên phong thúc đẩy thanh toán QR xuyên biên giới
Henrique Dubugras: Người định hình tương lai tài chính toàn cầu
BÀI: Trang Huyền (thực hiện)
Trao đổi cùng Người Dẫn Đầu, TS Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam khẳng định, có nhiều cơ sở để tin tưởng rằng Việt Nam có thể đạt tăng trưởng kinh tế năm 2026 cao hơn năm 2025, trong đó xuất nhập khẩu sẽ là một trong những bệ đỡ quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu.
Năm 2025 sắp khép lại, ông có nhận định như thế nào về “bức tranh” tổng thể của nền kinh tế Việt Nam trong năm nay?

Có thể khẳng định điểm sáng lớn nhất năm nay là Việt Nam duy trì được ổn định vĩ mô trong bối cảnh thế giới biến động mạnh. Việc kiểm soát tốt lạm phát, thâm hụt ngân sách, nợ công, cán cân thương mại và thanh toán tiếp tục tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng bền vững. Năm 2025, dù CPI chịu nhiều áp lực, nhưng vẫn nằm trong mục tiêu Quốc hội đề ra, phản ánh năng lực điều hành hiệu quả của Chính phủ và đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước.

Nhờ môi trường ổn định, các động lực tăng trưởng truyền thống như xuất nhập khẩu, tiêu dùng nội địa và đầu tư công duy trì đà tích cực. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu dự kiến vượt 850 tỷ USD; tiêu dùng dù không đạt mức kỳ vọng 12% nhưng vẫn tăng; đầu tư công giải ngân nhanh hơn đáng kể, góp phần tăng tổng cầu và nâng năng lực sản xuất.

Khu vực tư nhân cũng khởi sắc mạnh. Sau khi Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân được ban hành, nhiều dự án được gỡ vướng và tái khởi động, tạo làn sóng đầu tư mới. Số doanh nghiệp thành lập mới và quay lại hoạt động đạt kỷ lục, cho thấy niềm tin phục hồi. Mặc dù số doanh nghiệp rút lui tăng, nhưng chênh lệch vẫn dương, phản ánh quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ trong khu vực tư nhân.

Cùng với đó, cả khu vực công và tư đều đang chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Dù cần thời gian để phát huy đầy đủ, động lực chuyển đổi đã rõ rệt, hướng tới nâng cao năng suất và giá trị gia tăng. Nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh tiếp tục được đẩy mạnh, tạo đà quan trọng cho năm 2026.

Tuy nhiên, một số hạn chế cơ cấu vẫn tồn tại. Quá trình chuyển sang mô hình tăng trưởng mới còn chậm; đóng góp của năng suất tổng hợp (TFP) và năng suất lao động chưa tương xứng tiềm năng, cho thấy tăng trưởng vẫn phụ thuộc nhiều vào vốn và lao động giá rẻ. Thách thức lớn là đẩy nhanh chuyển đổi mô hình, hướng tới nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao để tăng trưởng bền vững hơn.

Nhờ môi trường ổn định, các động lực tăng trưởng truyền thống như xuất nhập khẩu, tiêu dùng nội địa và đầu tư công duy trì đà tích cực. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu dự kiến vượt 850 tỷ USD; tiêu dùng dù không đạt mức kỳ vọng 12% nhưng vẫn tăng...
Có một điều khá nghịch lý là trong năm 2025, kinh tế thế giới trải qua nhiều biến động và bất ổn, đặc biệt, một số yếu tố như thuế đối ứng của Mỹ hay việc Philippines tạm dừng nhập khẩu gạo được cho là sẽ tác động tiêu cực đến xuất khẩu của Việt Nam, tuy nhiên, thực tế cho thấy kim ngạch xuất khẩu của nước ta vẫn đạt kỷ lục mới. Theo ông, đâu là nguyên nhân giúp Việt Nam giữ vững đà tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ trong bối cảnh khó khăn như vậy?

Về thuế đối ứng của Mỹ, dù ban đầu gây lo ngại, mức thuế khi công bố chính thức chỉ nhỉnh hơn dự báo và tương đương các nước có sản phẩm tương tự, nên năng lực cạnh tranh tổng thể của hàng Việt không bị ảnh hưởng lớn. Một số tiểu ngành thủy sản chịu tác động rõ hơn nhưng quy mô không đủ lớn để làm đổi chiều xu hướng xuất khẩu.

Xuất khẩu Việt Nam vẫn tăng nhờ chiến lược đa dạng hóa thị trường với 17 hiệp định thương mại tự do (FTA), giảm phụ thuộc vào một thị trường duy nhất. Doanh nghiệp Việt cũng nâng cao khả năng thích ứng, điều chỉnh sản xuất, mở rộng thị trường, đầu tư tiêu chuẩn quốc tế, qua đó duy trì đơn hàng và đà tăng trưởng. Với việc Philippines tạm dừng nhập khẩu gạo, tác động là có nhưng nhỏ, do gạo không còn chiếm tỷ trọng lớn và nhiều doanh nghiệp đã chuyển hướng đơn hàng. Dự báo kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp năm 2025 vượt 70 tỷ USD, cho thấy tác động tiêu cực không đáng kể. Những diễn biến này cho thấy sức chống chịu của nền kinh tế đã cải thiện, nhưng về dài hạn cần chuyển sang mô hình xuất khẩu dựa trên chất lượng và giá trị gia tăng, đặc biệt phát triển công nghiệp phụ trợ để tăng tỷ lệ giá trị nội địa.

Tuy nhiên, xuất khẩu Việt Nam vẫn đối mặt thách thức từ các chính sách thương mại mới: thuế đối ứng của Mỹ, chính sách thuế gỗ mới, yêu cầu minh bạch chuỗi cung ứng tại châu Âu. Việt Nam cũng cần xử lý nhập siêu dịch vụ đang ở mức 10 - 12 tỷ USD, vì thu hẹp nhập siêu dịch vụ sẽ hỗ trợ cầu trong nước và cân bằng thanh toán.

Giai đoạn tới, Việt Nam cần chiến lược xuất khẩu toàn diện hơn, tập trung chuyển đổi cơ cấu, tăng giá trị gia tăng nội địa và mở rộng sang lĩnh vực dịch vụ tri thức, công nghệ cao.

Năm 2026, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức hai con số, tức trên 10%. Theo ông, mục tiêu này có khả thi không?

Tôi cho rằng chúng ta hoàn toàn có thể kỳ vọng tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2026 sẽ cao hơn năm 2025. Có nhiều cơ sở để tin tưởng vào điều đó.

Thứ nhất, niềm tin của thị trường và nhà đầu tư, cả trong nước lẫn quốc tế, đối với nền kinh tế Việt Nam vẫn rất mạnh mẽ. Niềm tin này chính là nền tảng quan trọng để thu hút thêm nguồn vốn, mở rộng đầu tư sản xuất - kinh doanh, đồng thời đảm bảo sự ổn định đơn hàng xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Thứ hai, bối cảnh kinh tế quốc tế cũng đang có những dấu hiệu tích cực. Nhiều quốc gia, đặc biệt là các thị trường nhập khẩu lớn của Việt Nam, đang nới lỏng chính sách tiền tệ và đẩy mạnh các biện pháp kích thích tăng trưởng kinh tế. Khi nhu cầu tiêu dùng toàn cầu được cải thiện, hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội tăng trưởng hơn.

Thứ ba, trong nước, đầu tư công dự kiến tiếp tục được đẩy mạnh trong năm 2026. Thu ngân sách nhà nước vẫn ổn định, nợ công nằm trong ngưỡng an toàn, tạo dư địa tài khóa thuận lợi để Chính phủ triển khai nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn. Những dự án này không chỉ tạo hiệu ứng lan tỏa về việc làm, thu nhập, mà còn mở rộng không gian phát triển kinh tế trong dài hạn.

Thứ tư, tiêu dùng trong nước sẽ có động lực tăng trưởng mới nhờ các chính sách về sửa đổi Luật Thuế Thu nhập cá nhân, dự kiến có hiệu lực trong năm 2026.

Thứ năm, năm 2026 cũng là năm đầu tiên của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm mới, nên chắc chắn Chính phủ và các bộ, ngành sẽ tập trung cao độ để tạo bứt phá, cả về điều hành, đầu tư, cải cách thể chế và đổi mới mô hình tăng trưởng.

Nhiều quốc gia, đặc biệt là các thị trường nhập khẩu lớn của Việt Nam, đang nới lỏng chính sách tiền tệ và đẩy mạnh các biện pháp kích thích tăng trưởng kinh tế.
Theo ông, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026, đặc biệt là mức hai con số mà Chính phủ đặt ra, Việt Nam cần tập trung vào những giải pháp trọng tâm nào?

Theo tôi, để đạt được tốc độ tăng trưởng cao và bền vững trong năm 2026, Việt Nam cần vừa duy trì, vừa làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, đồng thời phát triển mạnh các động lực tăng trưởng mới.

Trước hết, với các động lực truyền thống, như xuất khẩu, đầu tư, và tiêu dùng trong nước, chúng ta cần chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng về chất lượng.

Về xuất khẩu, tôi vẫn tin rằng xuất khẩu sẽ là bệ đỡ vững chắc cho tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2026. Tuy nhiên, chúng ta cần điều chỉnh cơ cấu hàng xuất khẩu, tập trung nhiều hơn vào chất lượng và giá trị gia tăng được tạo ra trong nước. Điều đó có nghĩa là phải thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân trong nước vào chuỗi cung ứng toàn cầu, phát triển công nghiệp phụ trợ, và nâng cao hàm lượng khoa học công nghệ, tri thức và đổi mới sáng tạo trong từng sản phẩm xuất khẩu.

Về đầu tư, đặc biệt là đầu tư tư nhân trong nước, đây cần được xem là một trụ cột then chốt của nền kinh tế. Muốn vậy, Nhà nước cần tháo gỡ các điểm nghẽn về pháp lý, thể chế và thủ tục hành chính, để khu vực tư nhân có thể mở rộng đầu tư, phát triển sản xuất - kinh doanh mạnh mẽ hơn nữa.

Về tiêu dùng trong nước, cần biến tổng cầu nội địa, đặc biệt là tiêu dùng của khu vực hộ gia đình và doanh nghiệp tư nhân, thành một động lực tăng trưởng quan trọng. Chính phủ nên sớm đưa Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi vào thực thi, giúp người dân có thu nhập khả dụng cao hơn, từ đó thúc đẩy chi tiêu và kích thích tăng trưởng.

Bên cạnh đó, cần có chính sách giảm gánh nặng thuế và chi phí cho doanh nghiệp, tạo sự yên tâm để họ đầu tư và mở rộng sản xuất, đồng thời nuôi dưỡng nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà nước.

Song song với việc làm mới các động lực cũ, Việt Nam cần tăng tốc phát triển các động lực tăng trưởng mới, như kinh tế số, kinh tế xanh, và kinh tế tuần hoàn. Đây là những lĩnh vực có tiềm năng lớn, vừa giúp nâng cao năng suất, vừa góp phần thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững và giảm phát thải.

Bên cạnh đó, chúng ta phải tập trung vào việc nâng cao năng suất lao động và yếu tố năng suất tổng hợp. Đây sẽ là nền tảng quyết định cho năng lực cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế. Muốn vậy, cần đầu tư mạnh hơn cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Một yếu tố mang tính nguyên tắc bất biến là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Trong bối cảnh thế giới còn nhiều biến động, việc giữ vững các cân đối lớn, như lạm phát, nợ công, cán cân thương mại, cán cân thanh toán, sự ổn định về tỷ giá hối đoái sẽ giúp Việt Nam duy trì niềm tin thị trường và sức chống chịu của nền kinh tế.

Cuối cùng, yếu tố xuyên suốt và có tính quyết định chính là cải thiện môi trường kinh doanh và cải cách thể chế. Cần tiếp tục giảm chi phí tuân thủ pháp luật, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đảm bảo môi trường đầu tư ổn định, minh bạch, an toàn và chi phí thấp. Khi đó, doanh nghiệp sẽ có điều kiện mở rộng quy mô, đổi mới sản xuất, tạo thêm việc làm và giá trị cho nền kinh tế.

Tóm lại, nếu Việt Nam vừa củng cố tốt các động lực cũ, vừa khơi dậy mạnh mẽ các động lực mới, đồng thời duy trì ổn định vĩ mô và cải thiện môi trường kinh doanh, thì mục tiêu tăng trưởng cao, thậm chí tiệm cận mức hai con số trong năm 2026, hoàn toàn có thể đạt được.

Xin cảm ơn ông!

BÀI: Ths. Võ Thu Hà
Ngày 6/10/2025, Bộ Tài chính ban hành Quyết định 3389/QĐ-BTC phê duyệt Đề án “Chuyển đổi mô hình và phương pháp quản lý thuế đối với hộ kinh doanh khi xóa bỏ thuế khoán”. Chính sách này tiếp nối định hướng tại Luật Quản lý thuế 38/2019/QH14 và Thông tư 40/2021/TT-BTC, hướng đến quản lý thuế minh bạch, dựa trên dữ liệu thực tế. Việc đồng hành cùng 3,6 triệu hộ, cá nhân kinh doanh trên cả nước minh bạch hóa thu nhập, dòng tiền, sổ sách… không chỉ thể hiện TRÁCH nhiệm xã hội của ngân hàng trong xây dựng nền kinh tế số mà còn là cơ hội để ngân hàng mở rộng tệp khách hàng.

Từ thuế khoán sang kê khai thực tế: Tăng tính tuân thủ và chế tài quản lý rủi ro

Theo Quyết định 3389/QĐ-BTC ngày 06/10/2025, Bộ Tài chính chính thức chuyển đổi mô hình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh từ phương pháp khoán sang phương pháp kê khai. Đây là thay đổi lớn nhất trong nhiều năm qua, nhằm hiện đại hóa quản lý thuế và đảm bảo công bằng giữa các nhóm người nộp thuế. Lãnh đạo Cục Thuế cho biết hiện 98% hộ kinh doanh kê khai đã nộp thuế điện tử, hơn 18.500 hộ thuế khoán chuyển sang kê khai, và 133.000 hộ đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử từ máy tính tiền.

Ngành thuế đang phối hợp với các nhà cung cấp giải pháp hóa đơn điện tử, đơn vị tư vấn và đại lý thuế để hỗ trợ hộ kinh doanh thực hiện các bước cần thiết... Thay vì cơ quan thuế ấn định doanh thu để tính thuế như trước, hộ kinh doanh sẽ tự kê khai doanh thu và nộp thuế theo thực tế. Việc này giúp phản ánh đúng quy mô kinh doanh, hạn chế tình trạng “khoán cào bằng” và thất thu ngân sách.

Hộ kinh doanh thuộc diện kê khai sẽ phải xuất hóa đơn điện tử, ghi nhận doanh thu qua phần mềm hoặc ứng dụng quản lý được cơ quan thuế chấp nhận. Từ ngày 1/1/2026, cơ quan thuế sẽ không còn thu thuế theo phương thức “ước lượng doanh thu” mà thực hiện đối chiếu thông tin từ hóa đơn, tài khoản ngân hàng, nền tảng thanh toán để xác định doanh thu thực tế, giảm phụ thuộc vào khai báo thủ công và hạn chế gian lận thuế. Nếu hộ kinh doanh kê khai sai hoặc không đầy đủ, cơ quan thuế có quyền ấn định thuế theo Luật Quản lý thuế, đồng thời áp dụng cơ chế phân loại rủi ro để kiểm tra, giám sát chặt hơn.

Phương pháp mới giúp hộ kinh doanh tiếp cận môi trường kinh doanh chính quy, có sổ sách rõ ràng để vay vốn hoặc mở rộng hoạt động. Giai đoạn đầu có thể phát sinh chi phí tuân thủ (kê khai, phần mềm, hóa đơn điện tử), nhưng việc chuyển đổi này là cần thiết và sẽ mang lại lợi ích lâu dài cho cả Cơ quan thuế và người nộp thuế.

Đơn cử khi có sổ sách và chứng từ minh bạch giúp hộ kinh doanh dễ chứng minh thu nhập khi vay vốn hoặc chuyển đổi thành doanh nghiệp, theo quy định tại Nghị định 01/2021/NĐ-CP. Việc áp dụng hóa đơn điện tử và quản lý doanh thu số theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP giúp hộ kinh doanh dần tham gia hệ thống thuế điện tử, phù hợp định hướng chuyển đổi số ngành thuế.

Ông Mai Sơn - Phó Cục trưởng Cục Thuế (Bộ Tài chính) cho biết, việc chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai là bước đi quan trọng nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về quản lý thuế công bằng, minh bạch và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân. “Chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai không chỉ là thay đổi cách tính thuế, mà là một cuộc chuyển mình toàn diện, từ trong phương thức quản lý, tư duy phục vụ và cách thức đồng hành với người nộp thuế”, ông Mai Sơn nhấn mạnh.

Theo phân tích của PGS. TS Lê Xuân Trường - Trưởng Khoa Thuế - Hải quan (Học viện Tài chính), thuế khoán đối với hộ kinh doanh được thực hiện trong điều kiện nền kinh tế ở trình độ phát triển thấp, khoa học và công nghệ chưa hiện đại, khả năng áp dụng công nghệ thấp, không có điều kiện sử dụng sổ sách kế toán để ghi nhận doanh thu thực tế, nên cần ước tính doanh thu để tính thuế. Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển của nền kinh tế số hiện nay, khi mà việc sử dụng các phương tiện điện tử đã trở nên rất phổ biến với chi phí rẻ và dễ sử dụng, thì việc tiếp tục duy trì thuế khoán đối với hộ kinh doanh không còn phù hợp. Việc xóa bỏ hình thức thuế khoán chuyển sang phương pháp kê khai, nộp thuế thực tế là bước tiến quan trọng giúp nâng cao sự minh bạch và công bằng trong công tác quản lý thuế và đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật giữa các đối tượng kinh doanh, dù là cá nhân hay doanh nghiệp”.

Thủ tướng Phạm Minh Chính vừa có ý kiến chỉ đạo về việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hộ kinh doanh:

Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan khẩn trương nghiên cứu, tham mưu cấp có thẩm quyền xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật về thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho đối tượng này. Bộ Tài chính chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan trong quá trình hoàn thiện, trình ban hành Luật Quản lý thuế (thay thế), Luật Thuế Thu nhập cá nhân (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bám sát tiến độ, tiếp thu giải trình ý kiến thành viên Chính phủ để hoàn thiện, trình ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết 198 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân...

Thủ tướng giao Bộ Tài chính triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hộ kinh doanh trong quá trình chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp bảo đảm hiệu quả, thực chất, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trong tháng 12/2025…

Thủ tướng cũng yêu cầu Hội đồng Tư vấn chính sách, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan trong theo dõi, đánh giá, phản biện chính sách; nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy hộ kinh doanh chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp...

Với mong muốn đồng hành cùng khách hàng trong giai đoạn chuyển đổi và phát triển kinh doanh bền vững, Vietcombank tiên phong triển khai gói giải pháp số toàn diện hỗ trợ thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhanh chóng, thuận tiện thông qua kết nối với các đối tác cung cấp giải pháp phần mềm bán hàng của Vietcombank”.

Ngân hàng đồng hành cùng tiểu thương

Theo Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030: Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể và là động lực chính của công cuộc chuyển đổi số ngành Ngân hàng; Ngân hàng Nhà nước (NHNN) giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn Ngành. Mục tiêu cuối cùng của quá trình chuyển đổi số ngành Ngân hàng là mang lại dịch vụ ngân hàng thuận tiện, thông minh, giao diện thân thiện, truy cập dễ dàng, đa kênh và hỗ trợ đa thiết bị, an toàn và tin cậy, góp phần nâng cao đời sống tài chính cho người dân và hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp...

Những năm gần đây ngành Ngân hàng là ngành đi đầu trong chuyển đổi số. Chính vì thế, việc đồng hành cùng ngành Thuế trong công cuộc số hóa, thực hiện chủ trương “Chuyển đổi mô hình và phương pháp quản lý thuế đối với hộ kinh doanh khi xóa bỏ thuế khoán” là hoạt động tương đối thuận lợi của các ngân hàng. Thực tế hiện hiện nay tỷ lệ giao dịch qua kênh số của nhiều ngân hàng đã vượt mốc 90%.

Trong khi đó, lâu nay cá nhân, hộ kinh doanh đã quen với ghi chép thủ công, nay họ phải làm quen với sổ sách điện tử, tách riêng dòng tiền cá nhân và kinh doanh, đầu tư thêm cho phần mềm và thiết bị kế toán. Thời gian để hộ kinh doanh chuyển sang nộp thuế theo phương thức kê khai không còn nhiều, ngoài lo ngại về việc phải thích ứng với phần mềm kế toán, băn khoăn về mức thu nhập chịu thuế, thuế suất… hộ kinh doanh cũng không khỏi lo lắng khi mùa kinh doanh cuối năm đã cận kề, liệu việc chuyển đổi này có làm họ khó tiếp cận nguồn vốn vay. Vì ngay cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay cũng khó khăn tiếp cận vốn ngân hàng. Hiện tại, chỉ khoảng 19% doanh nghiệp vừa và nhỏ và hơn 10% hộ kinh doanh tại Việt Nam tiếp cận được vốn ngân hàng.

Chính vì thế, trong lúc “nước sôi lửa bỏng” - khi hộ, cá nhân kinh doanh chuyển đổi cần sự hỗ trợ tích cực từ ngân hàng, bà Đoàn Hồng Nhung - Thành viên Ban điều hành, Giám đốc Khối bán lẻ Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) cho biết: “Với mong muốn đồng hành cùng khách hàng trong giai đoạn chuyển đổi và phát triển kinh doanh bền vững, Vietcombank tiên phong triển khai gói giải pháp số toàn diện hỗ trợ thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhanh chóng, thuận tiện thông qua kết nối với các đối tác cung cấp giải pháp phần mềm bán hàng của Vietcombank. Theo đó, hộ kinh doanh, doanh nghiệp SME khi đăng ký sử dụng ngân hàng số VCB DigiBiz cùng các gói giao dịch SME sẽ được hưởng nhiều ưu đãi hấp dẫn. Bên cạnh đó, Vietcombank còn kết nối phần mềm bán hàng Kiot Việt giúp quản lý bán hàng và xuất hóa đơn điện tử trong một chạm. Ngoài ra, Vietcombank cũng kết nối Etax của Tổng cục Thuế giúp khách hàng đóng thuế thuận tiện, chủ động, nhanh chóng. Từ giao dịch ngân hàng, quản lý bán hàng, phát hành hóa đơn điện tử, cho đến thanh toán thuế và tiếp cận vốn - tất cả được tích hợp trong bộ giải pháp VCB Digishop, giúp khách hàng vận hành nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm trong thời đại số”.

Ngoài Vietcombank, rất nhiều ngân hàng khác đã, đang tích cực hỗ trợ hộ, cá nhân kinh doanh chuyển đổi. Theo các chuyên gia, có nhiều động lực chính thúc đẩy các ngân hàng đưa ra nhiều chính sách đồng hành cùng nhóm khách hàng này. Ngoài việc cùng ngành Thuế trong tiến trình số hóa và chống thất thu thuế, ngân hàng hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi sang thuế kê khai, tăng tốc chuyển đổi số không chỉ giúp hộ kinh doanh quản lý hàng hóa, doanh thu và lợi nhuận hiệu quả hơn, minh bạch hơn mà còn mở rộng độ phủ dịch vụ ngân hàng, nhất là các dịch vụ về thanh toán và tín dụng. Đây là cơ hội để các ngân hàng gia tăng tệp khách hàng mới bởi khi khách hàng kê khai doanh thu và chi phí rõ ràng, ngân hàng có thể đánh giá chính xác nhu cầu vốn của các hộ kinh doanh, doanh nghiệp.

Năm 2024, tổng thu ngân sách nhà nước từ nhóm hộ, cá nhân kinh doanh là khoảng 26.000 tỷ đồng; 9 tháng năm 2025 là 25.200 tỷ đồng trong tổng số thu từ khu vực kinh tế tư nhân hơn 338.000 tỷ đồng. Những con số này phần nào cho thấy vai trò của các hộ, cá nhân kinh doanh trong nền kinh tế; và cùng với việc “giữ một vị thế nhất định”, đây tất yếu là nhóm khách hàng đáng quan tâm của ngân hàng.

Một trong những mục tiêu Chiến lược phát triển công nghệ thông tin ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đặt ra là: Ít nhất 70% các nghiệp vụ ngân hàng cho phép khách hàng có thể thực hiện hoàn toàn trên môi trường số; Ít nhất 80% số lượng giao dịch của khách hàng được thực hiện thông qua các kênh số; Ít nhất 80% ngân hàng có tỷ trọng doanh thu từ kênh số đạt trên 30%; 50% các ngân hàng số hóa 100% quy trình cho vay nhỏ lẻ, giá trị nhỏ của khách hàng cá nhân… 100% ngân hàng ứng dụng công nghệ tiên tiến như AI, Big Data, Blockchain, Cloud, Open API, RPA, IoT trong phân tích nhu cầu, tương tác với khách hàng, quản trị rủi ro, chống gian lận, phát triển cung ứng các sản phẩm dịch vụ…
BÀI: Ban Cầm
Năm 2007, Farm Powers, một nông trại ở Mỹ đã nghĩ ra một ý tưởng đột phá: tạo ra năng lượng tái tạo từ… phân bò. Daryl và Kevin Maas, hai anh em là đồng sáng lập Farm Powers, đã tạo ra một dây chuyền máy mô phỏng dạ dày của bò, TIÊU HÓA phân kỵ khí để sinh ra khí mê-tan và sử dụng nó để phát điện.

Họ nảy ra ý tưởng này trong một hoàn cảnh rất cực đoan: giá sữa sụp giảm mạnh đe dọa ngành nuôi bò sữa, vốn gánh rất nhiều chi phí và tốn kém năng lượng. Nhiều hàng xóm và bạn bè của cả hai đã phải ngừng kinh doanh, thậm chí bán nông trại để trả các khoản nợ. Hai anh em nhà Maas cũng phải chật vật lắm mới có thể giữ được nông trại của mình.

Thế là họ cố gắng chế tạo một chiếc máy giải quyết hai vấn đề, xử lý phân bò và tiết kiệm điện. Hệ thống phân huỷ kỵ khí có khả năng tạo ra nguồn điện trong quá trình xử lý phân. Không chỉ sử dụng cho trang trại của mình, anh em nhà Maas còn chia sẻ điện cho các nông trại lân cận, giúp tiết kiệm chi phí phân bón và giường nằm cho bò, thậm chí còn thừa điện để bán cho lưới điện chung.

Đến nay, Farm Power Northwest đã phát triển thành Maas Energy Works, mở rộng sang California vào năm 2010 và hiện vận hành hơn 35 hệ thống xử lý phân kỵ khí tại Bắc Mỹ. Những trang trại kiểu này cũng góp phần giảm biến đổi khí hậu bằng cách thu giữ và tái sử dụng khí mê-tan, một khí nhà kính rất mạnh mà nếu để thoát ra môi trường sẽ rất có hại.

Ban đầu, khi đem ý tưởng này đi “chào hàng”, tìm nguồn tài trợ, hai anh em nhà Maas chỉ nhận được những cái lắc đầu. Biến phân bò thành điện là một ý tưởng nghe qua rất viển vông. Thêm vào đó, các quỹ đầu tư và ngân hàng thường không hứng thú khi lắng nghe khía cạnh “tốt cho môi trường” của dự án: định kiến của giới đầu tư là bạn không thể vừa đóng góp cho môi trường, vừa hy vọng có lợi nhuận được. Họ bỏ tiền ra để tiền đẻ ra tiền, không phải để cứu vớt thế giới.

Beneficial State Bank, một ngân hàng phi lợi nhuận đã để ý đến dự án, và đồng ý cấp một khoản vay. Ngân hàng này tập trung cấp vốn và dịch vụ ngân hàng cho các cá nhân và doanh nghiệp trong các cộng đồng có thu nhập thấp, đặc biệt là những doanh nghiệp xã hội và tổ chức phi lợi nhuận.

Beneficial áp dụng mô hình “ba lãi ròng” (triple bottom line), tức là cùng lúc theo đuổi lợi nhuận, thúc đẩy bền vững môi trường và mở rộng cơ hội kinh tế cho các cộng đồng chưa được phục vụ đầy đủ. Nghe qua thì có vẻ rất gần với mục tiêu của các tổ chức từ thiện.

Nhưng điều kỳ lạ là họ vẫn có lợi nhuận: tài sản của họ tăng lên 1.94 tỷ USD vào năm 2024, với tăng trưởng cho vay ròng là hơn 12%. 65% các khoản vay của họ tới tay những cộng đồng có thu nhập thấp, nhưng sở hữu những ý tưởng bền vững và độc đáo, giống như Farm Powers của anh em nhà Maas.

Beneficial, trên danh nghĩa là một ngân hàng không có sứ mệnh kiếm tiền, đã gián tiếp trả lời một câu hỏi hóc búa: đầu tư vào sự bền vững và tăng trưởng xanh có phải là những ý tưởng viển vông và phi lợi nhuận hay không?

Khi biến đổi khí hậu đã và đang tạo ra những hậu quả cực đoan, nhu cầu với những ý tưởng tái tạo, xanh sạch và bền vững ngày càng bùng nổ.

Theo báo cáo của SolarTech, thị trường năng lượng tái tạo toàn cầu đạt 1.4-1.5 nghìn tỷ USD năm 2025, với tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm lên đến 12-15%. Đầu tư vào năng lượng sạch đạt kỷ lục 386 tỷ USD chỉ trong nửa đầu năm 2025, tăng 10% so với năm trước, theo BloombergNEF. Đồng thời, thị trường đầu tư ESG (môi trường, xã hội, quản trị) lên đến 29,77 nghìn tỷ USD năm 2024 và dự kiến đạt 127 nghìn tỷ USD vào 2034.

Các ngân hàng lớn đang đẩy một nguồn vốn khổng lồ vào tăng trưởng xanh, không chỉ vì đây là điều tốt, mà còn để kiến tạo một tầm nhìn lợi nhuận bền vững.

Tháng 2/2025, ngân hàng Standard Chartered công bố một kế hoạch chuyển đổi toàn diện, trong đó lồng ghép các cân nhắc liên quan đến biến đổi khí hậu vào từng lĩnh vực kinh doanh. Họ cam kết đạt net-zero trong các hoạt động vào năm 2025 và đến 2050 sẽ chỉ đầu tư vào các dự án đủ tiêu chuẩn trung lập về carbon.

Trong năm 2025, thu nhập từ tài chính bền vững của họ đạt gần 1 tỷ USD, đóng góp đáng kể vào lợi nhuận tổng thể của ngân hàng (lợi nhuận trước thuế 2024 đạt 7,8 tỷ USD, tăng trưởng mạnh nhờ mảng xanh).

HSBC đã triển khai chương trình Trái phiếu xanh từ năm 2017, và đạt được hiệu quả đáng kể. Theo báo cáo Net Zero Transition Plan 2025 của HSBC, chương trình đã hỗ trợ tài trợ 13 tỷ USD cho năng lượng tái tạo trong năm 2024 (chiếm hơn 50% khoản vay xanh), và trong nửa đầu năm 2025, tổng giá trị giao dịch tài chính bền vững đạt 54,1 tỷ USD, tăng 19% so với cùng kỳ năm trước, đưa tổng tích lũy từ 2020 lên 447,7 tỷ USD - tiến gần mục tiêu 750-1.000 tỷ USD vào 2030.

Năm 2020, họ cam kết ngừng tài trợ cho các dự án than đá mới, chuyển hướng sang đầu tư 100 tỷ USD vào năng lượng tái tạo đến năm 2025. Kết quả? Không chỉ giảm rủi ro từ biến động giá nhiên liệu hóa thạch, mà còn tăng doanh thu từ các khoản vay xanh, với lãi suất hấp dẫn hơn nhờ nhu cầu cao từ nhà đầu tư ESG. Theo báo cáo của HSBC, các sản phẩm tài chính xanh đã mang về lợi nhuận tăng 20% so với các khoản đầu tư truyền thống, đồng thời nâng cao giá trị thương hiệu, thu hút thế hệ millennial, những khách hàng sẵn sàng chuyển ngân hàng nếu không thấy cam kết bền vững.

JPMorgan Chase cũng phát hành trái phiếu xanh trị giá hàng tỷ USD để tài trợ cho các dự án năng lượng sạch như trang trại gió ngoài khơi. Chiến lược này không chỉ giúp họ tuân thủ quy định nghiêm ngặt từ Liên minh châu Âu (EU) và Mỹ về báo cáo carbon, mà còn tạo lợi thế cạnh tranh.

Lý do nào khiến chuyển đổi xanh từ một trào lưu chưa rõ ràng trở thành một đại dương xanh tài chính? Theo báo cáo của Coherent Market Insights, thị trường chuyển đổi năng lượng toàn cầu ước đạt 3,11 nghìn tỷ USD năm 2025, dự kiến tăng lên 6,03 nghìn tỷ USD vào năm 2032, với tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm lên đến 9,9%.

Theo báo cáo của Coherent Market Insights, thị trường chuyển đổi năng lượng toàn cầu ước đạt 3,11 nghìn tỷ USD năm 2025, dự kiến tăng lên 6,03 nghìn tỷ USD vào năm 2032, với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm lên đến 9,9%

Sự bùng nổ này được thúc đẩy bởi nhu cầu năng lượng tái tạo, lưu trữ năng lượng và công nghệ sạch, nơi năng lượng tái tạo chiếm 63,2% thị phần năm 2025, nhờ chi phí thấp hơn hẳn so với nhiên liệu hóa thạch.

Đầu tư vào chuyển đổi xanh đạt con số kỷ lục 2,08 nghìn tỷ USD vào năm 2024, tăng 11% so với năm trước, theo BloombergNEF, với các lĩnh vực nổi bật là giao thông điện hóa (757 tỷ USD) và năng lượng tái tạo (728 tỷ USD).

Các nhà đầu tư hưởng lợi từ chi phí vận hành thấp, giá ổn định và lợi nhuận vượt trội: năng lượng tạo ra từ mặt trời và gió đã đạt tính cạnh tranh kinh tế ở nhiều thị trường, mang lại lợi nhuận dài hạn cao hơn so với đầu tư truyền thống. McKinsey nhấn mạnh rằng tiến trình đã triển khai 13,5% công nghệ thấp phát thải cần thiết đến cuối 2024, với doanh số xe điện đạt 17 triệu chiếc năm 2024, tăng 70%, chứng minh thị trường này không chỉ xanh mà còn sinh lời khổng lồ.

Các thống kê của hãng tư vấn tài chính khổng lồ này cũng cho thấy những ngân hàng áp dụng chiến lược xanh có thể tăng lợi nhuận ròng lên đến 15% trong thập kỷ tới nhờ giảm chi phí rủi ro và mở rộng thị trường mới ở các quốc gia đang phát triển kinh tế xanh như Việt Nam hay Ấn Độ.

Xu thế này không thể đảo ngược nhờ những cam kết chính sách trên toàn cầu, như Thỏa thuận Paris và Thoả thuận Xanh châu Âu (EU Green Deal), cùng các tiến bộ công nghệ. Chuyển đổi xanh đã vượt qua điểm bùng phát, mang lại cơ hội kinh tế bền vững cho tương lai.

Tóm lại, chuyển đổi xanh không phải là gánh nặng mà là chìa khóa cho lợi nhuận bền vững. Các ngân hàng nhận ra rằng, trong thế giới hậu COVID-19, ai dẫn đầu về xanh sẽ dẫn đầu về lợi nhuận, với rủi ro thấp hơn và cơ hội vô tận từ nền kinh tế carbon thấp.

Là ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam, với sứ mệnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nền tảng kinh nghiệm và uy tín, Vietcombank tự hào tiên phong đồng hành cùng Ngân hàng Nhà nước trong việc mở rộng kết nối thanh toán (TT) khu vực. Vietcombank cũng là đơn vị duy nhất tại Việt Nam chấp nhận đầy đủ cả 6 thương hiệu thẻ quốc tế lớn trên thị trường và đã giữ thị phần TT thẻ dẫn đầu suốt hơn 20 năm qua.

Bùng nổ TT không dùng tiền mặt

Nhiều năm qua, ngành Ngân hàng tiên phong ứng dụng khoa học, công nghệ; luôn đi đầu trong chuyển đổi số. Đối với lĩnh vực TT, nếu như 10 năm trước, tiền mặt chi phối các giao dịch của doanh nghiệp và người dân thì nay, phổ biến là các hình thức TT không dùng tiền mặt. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong 9 tháng đầu năm 2025, TT không tiền mặt tăng trưởng vượt bậc trên tất cả các kênh. Cụ thể, so với cùng kỳ 2024, tổng lượng giao dịch không tiền mặt tăng 43,32%, giá trị giao dịch tăng 24,23%. Đặc biệt, giao dịch qua kênh QR Code tăng 61,63% về số lượng và 150,67% về giá trị, là mức tăng lớn nhất so với các hình thức khác về giao dịch không tiền mặt. Chỉ tính riêng NAPAS, đến hết tháng 9/2025, hệ thống này xử lý 8,3 tỷ giao dịch với giá trị hơn 47,53 triệu tỷ đồng.

TT số, đặc biệt là qua mã QR, đang trở thành xu hướng tất yếu trên thế giới. Theo báo cáo DataReport mới đây, mức độ phổ cập TT QR ở Đông Nam Á đang vượt trội hơn nhiều khu vực khác trên thế giới. Đáng chú ý, nhiều quốc gia châu Á đang liên thông các hệ thống TT QR quốc gia với nhau để hỗ trợ du khách TT xuyên biên giới dễ dàng.

Tuy nhiên, hình thức TT mã QR Code hiện tại cũng bộc lộ một số vấn đề cần phải hoàn thiện. Tại Việt Nam, nhiều đơn vị chấp nhận TT sử dụng mã QR cá nhân, dẫn đến một số vấn đề như: khó khăn trong việc thống kê số liệu giao dịch; ảnh hưởng đến quyền lợi khách hàng (KH) bởi thực tế khi KH thực hiện TT qua mã QR của đơn vị chấp nhận TT sẽ có quyền lợi yêu cầu xử lý tra soát, khiếu nại, bồi hoàn theo quy định tại hợp đồng ký kết giữa đơn vị chấp nhận TT và tổ chức cung ứng dịch vụ TT/trung gian TT trong quá trình sử dụng sản phẩm dịch vụ của đơn vị chấp nhận TT; KH tại các nước có hợp tác kết nối TT bán lẻ song phương qua mã QR khi đến các đơn vị chấp nhận TT tại Việt Nam (đang sử dụng mã QR cá nhân cho mục đích TT) sẽ không thể TT được. Bên cạnh đó, để phát triển mạng lưới đơn vị chấp nhận TT sử dụng mã QR TT (QR Pay) đòi hỏi các tổ chức cung ứng dịch vụ TT, trung gian TT phải có giải pháp để khuyến khích các đơn vị chấp nhận TT sử dụng mã QR TT; đồng thời đầu tư nguồn lực để phát triển thêm mạng lưới đơn vị chấp nhận TT…

Vietcombank nâng tầm trải nghiệm cho du khách

Mới đây, tại Hội thảo “TT QR Code: Minh bạch và trải nghiệm không giới hạn” được tổ chức ở Hà Nội, bà Đoàn Hồng Nhung - Thành viên Ban điều hành, Giám đốc Khối bán lẻ Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) có bài phát biểu quan trọng với chủ đề: TT QR xuyên biên giới - Hành trình nâng tầm trải nghiệm cho du khách tại mọi điểm bán.

Theo bà Nhung, thống kê cho thấy, riêng trong lĩnh vực du lịch, du khách quốc tế đến Việt Nam đang trên đà tăng trưởng ấn tượng. Chỉ trong 10 tháng đầu năm 2025, Việt Nam đã đón 17,2 triệu lượt khách quốc tế, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm 2024. “Đây là con số rất đáng khích lệ, mở ra cơ hội lớn để Việt Nam thúc đẩy các phương thức TT hiện đại, thay thế tiền mặt trong chi tiêu của du khách. Câu hỏi đặt ra là: Làm sao để du khách nước ngoài đến Việt Nam (và cả người Việt đi nước ngoài) có thể TT thuận tiện như người bản địa? TT QR xuyên biên giới chính là đáp án cho bài toán này - giúp du khách TT nhanh chóng, an toàn, đồng thời giúp nền kinh tế hấp thụ trọn vẹn nguồn ngoại tệ du khách mang đến”, Thành viên Ban điều hành, Giám đốc Khối bán lẻ Vietcombank khẳng định.

Bà Nhung nhấn mạnh, TT QR xuyên biên giới mang lại lợi ích toàn diện cho tất cả các bên tham gia, từ doanh nghiệp bán hàng, khách du lịch cho đến nền kinh tế quốc gia. Theo đó, đối với người bán (doanh nghiệp, cửa hàng): Giảm đáng kể chi phí đầu tư ban đầu; Triển khai đơn giản và nhanh chóng; Phí giao dịch thấp, tăng lợi nhuận ròng; Mở rộng tệp KH tiềm năng; Cải thiện quản lý dòng tiền và tính minh bạch. Đối với khách du lịch (người dùng cuối): Sử dụng ứng dụng quen thuộc của chính họ; Tự động quy đổi ngoại tệ với tỷ giá cạnh tranh; An toàn hơn, thoải mái hơn; Giao dịch nhanh chóng, thuận tiện. Đối với nền kinh tế đất nước: Tăng doanh thu từ du lịch quốc gia; Tăng tốc luân chuyển và hấp thụ dòng tiền trong nền kinh tế; Thúc đẩy sử dụng đồng nội tệ trong giao dịch quốc tế; Minh bạch hóa hệ thống tài chính, hỗ trợ chống rửa tiền và thất thu thuế.

Tuy nhiên, đại diện Vietcombank nhận định, thực tế TT QR còn tồn tại một số thách thức như: Sự thiếu đồng bộ và nhất quán tại điểm bán; Hạn chế về hạ tầng và thói quen ở nhóm tiểu thương, hộ kinh doanh; Chi phí và rào cản với người dùng cuối. Điều này đặt ra vấn đề: cần một giải pháp tổng thể từ phía các ngân hàng tiên phong và sự hỗ trợ của cơ quan quản lý để tháo gỡ nút thắt, chuẩn bị hành trang cho giai đoạn bùng nổ TT không tiền mặt trong du lịch.

Là NHTM hàng đầu Việt Nam với sứ mệnh đổi mới sáng tạo, Vietcombank tự hào tiên phong đồng hành cùng NHNN trong việc mở rộng kết nối TT khu vực. Trước hết, Vietcombank có nền tảng kinh nghiệm và uy tín hàng đầu trong lĩnh vực TT, là đơn vị duy nhất tại Việt Nam chấp nhận đầy đủ cả 6 thương hiệu thẻ quốc tế lớn trên thị trường (Visa, MasterCard, JCB, AMEX, UnionPay, Discover), và đã giữ thị phần TT thẻ dẫn đầu suốt hơn 20 năm qua. Đây là lợi thế quan trọng để Vietcombank tự tin mở rộng sang các phương thức TT mới như QR. Ngân hàng hiểu rõ hệ sinh thái TT, có mạng lưới đối tác rộng khắp và năng lực công nghệ sẵn sàng để kết nối với các đối tác nước ngoài.

Về phía người dùng cuối, Vietcombank cũng đáp ứng đầy đủ nhu cầu TT QR xuyên biên giới trên tất cả các kênh. Hiện nay, KH Vietcombank khi du lịch nước ngoài có thể dùng VCB Digibank hoặc VCB Digibiz để quét mã QR TT tại Thái Lan, Singapore, Indonesia... và sắp tới là nhiều nước khác trong mạng lưới. Chiều ngược lại, du khách các nước đó quét mã VietQR tại Việt Nam sẽ được xử lý bởi hệ thống Vietcombank. Vietcombank cũng là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam tích hợp tính năng TT QR xuyên biên giới (cả hai hình thức: du khách quét mã người bán và người bán quét mã du khách) trên tất cả các nền tảng số của mình.

Bà Đoàn Hồng Nhung khẳng định: “Vietcombank đề cao tính minh bạch và trải nghiệm người dùng trong giải pháp của mình. Khi du khách nước ngoài sử dụng ứng dụng của họ để TT tại Việt Nam qua kết nối với Vietcombank, tỷ giá quy đổi và mọi phí dịch vụ sẽ được hiển thị rõ ràng ngay trên màn hình điện thoại trước khi họ xác nhận TT. Việc này loại bỏ hoàn toàn rủi ro bị “chặt chém” tỷ giá mà du khách thường lo ngại khi phải đổi tiền ở các quầy không chính thức. Du khách sẽ tin tưởng rằng họ luôn được hưởng tỷ giá cạnh tranh và công bằng. Song song, Vietcombank cam kết mức phí dịch vụ thấp cho cả người bán lẫn người mua, với tỷ giá quy đổi ưu đãi nhờ quy mô và vị thế của ngân hàng”.

Về phía người bán, đến nay, Vietcombank đã đưa vào hoạt động dịch vụ VietQR Global kết nối với các thị trường Thái Lan và Trung Quốc - những thị trường du lịch trọng điểm của Việt Nam. Việc kết nối này cho phép du khách từ các nước trên dùng app ngân hàng nước họ quét mã và TT tại Việt Nam, tương tự như người Việt có thể quét mã khi du lịch các nước đó.

“Vietcombank vinh dự được các đối tác chỉ định làm ngân hàng thanh quyết toán cho các luồng giao dịch này - nghĩa là Vietcombank đóng vai trò “nhạc trưởng” đảm bảo tiền từ tài khoản du khách ở nước ngoài được chuyển đổi suôn sẻ sang tài khoản người bán tại Việt Nam. Bên cạnh đó, Vietcombank cũng cung cấp đầy đủ các phương thức TT xuyên biên giới hiện có, từ mã QR một chiều (song phương) đến kết nối đa phương trong khuôn khổ ASEAN”, bà Nhung chia sẻ.

Đối với thị trường nội địa, Vietcombank chú trọng giải pháp hỗ trợ các tiểu thương, hộ kinh doanh nhỏ lẻ - những người trước đây khó tiếp cận TT số. Ngân hàng đã phát triển ứng dụng VCB Merchant (dành cho người bán), biến chiếc điện thoại thông minh thành một điểm chấp nhận TT thẻ và QR di động. Với ứng dụng này, người bán hàng nhỏ lẻ không cần máy POS tốn kém, chỉ cần điện thoại cài app VCB Merchant là có thể quản lý bán hàng, tạo mã QR, quét mã TT tất cả trong một. Vietcombank đã và đang đồng hành cùng hàng chục ngàn hộ kinh doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển đổi số thông qua giải pháp thân thiện này. Đây chính là cách Vietcombank phổ cập TT số từ gốc, giúp mở rộng mạng lưới chấp nhận QR tới mọi ngõ ngách, chuẩn bị cho làn sóng du khách sử dụng QR trong tương lai.

“Nhờ những nỗ lực tiên phong đó, Vietcombank tin tưởng sẽ góp phần đặt nền móng vững chắc cho hệ sinh thái TT du lịch không tiền mặt tại Việt Nam. Tuy chặng đường phía trước còn nhiều việc phải làm - từ mở rộng thêm kết nối với các nước, chuẩn hóa mã QR toàn thị trường, cho đến tuyên truyền thay đổi thói quen người dân - Vietcombank cam kết sẽ tiếp tục dẫn dắt và phối hợp chặt chẽ với các ngân hàng bạn, với Ngân hàng Nhà nước và các đối tác quốc tế để hiện thực hóa mục tiêu này”, bà Đoàn Hồng Nhung khẳng định.

Đồng thời, Thành viên Ban điều hành, Giám đốc Khối bán lẻ Vietcombank cũng nêu ý kiến: “Để triển khai hiệu quả, Vietcombank rất cần sự phối hợp chặt chẽ từ NHNN, các NHTM và đối tác quốc tế. Trong đó, NHNN đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng khung pháp lý và chính sách hỗ trợ cho TT không tiền mặt. Các NHTM cần đẩy mạnh việc nâng cấp cơ sở hạ tầng và cung cấp các dịch vụ TT đa dạng, trong khi các đối tác quốc tế giúp thúc đẩy sự kết nối giữa các hệ thống TT toàn cầu. Sự hợp tác đồng bộ giữa các bên sẽ giúp tạo ra một hệ sinh thái TT mạnh mẽ, tiện lợi và an toàn cho người tiêu dùng”.

TT QR xuyên biên giới không chỉ là một giải pháp kỹ thuật trong ngành Ngân hàng, mà còn là chìa khóa mở ra hành trình trải nghiệm liền mạch cho du khách và cơ hội bứt phá cho kinh tế số Việt Nam. Khi mỗi du khách nước ngoài có thể TT thuận tiện như người bản địa, họ sẽ cảm thấy Việt Nam thân thiện, hiện đại và đáng quay trở lại hơn. Khi mỗi giao dịch của du khách được ghi nhận qua ngân hàng, dòng tiền ngoại tệ quý giá sẽ được hấp thụ và phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Hành trình “nâng tầm trải nghiệm cho du khách tại mọi điểm bán” thông qua QR code chính là hành trình khẳng định vị thế của ngành du lịch và ngân hàng Việt Nam trên bản đồ số hóa toàn cầu.

BÀI: An Thái Anh (tổng hợp)
Giữa Thung lũng Silicon, nơi những ý tưởng tầm cỡ thế giới được tạo ra mỗi ngày, cái tên Henrique Dubugras luôn nổi bật như một biểu tượng của thế hệ doanh nhân công nghệ sinh quanh năm 1995: trẻ, liều lĩnh và có tư duy toàn cầu ngay từ vạch xuất phát.
Fintech không phải để thay thế ngân hàng; nó là cách tái thiết toàn bộ trải nghiệm tài chính”.
Henrique được ví như người lãnh đạo
định hình tương lai tài chính
Bộ đôi Henrique Dubugras và Pedro Franceschi khi còn trẻ
Bạn không cần là thiên tài để xây dựng một công ty lớn. Điều bạn cần là sự kiên trì đến mức… điên rồ.”

Bắt đầu lập trình ở tuổi 12, khởi nghiệp lần đầu tiên từ năm 16 tuổi, bán công ty ở tuổi 18, rồi bỏ Stanford ở tuổi 19 để lập Brex và xây dựng nền tảng thẻ tín dụng doanh nghiệp trị giá hơn 12 tỷ USD, Henrique đã chứng minh rằng một tài năng lớn không cần quá nhiều thời gian để định nghĩa lại cuộc chơi

Từ căn phòng nhỏ ở Brazil đến quyền lực của công nghệ

Hành trình của Henrique Dubugras khởi đầu từ Brazil, một quốc gia đầy tương phản, nơi những khu công nghệ mới nổi nằm sát cạnh các khu vực kinh tế truyền thống. Từ nhỏ, Henrique đã bị cuốn hút bởi máy tính theo cách mà cậu tự nhận là “nghiện lập trình”. Đến năm 12 tuổi, Henrique đã tự học viết code; đến năm 14 tuổi thì tình cờ đụng độ với pháp lý khi tự xây dựng một phiên bản clone của mạng xã hội Twitter. Dù bị buộc phải đóng dự án vì vi phạm bản quyền, trải nghiệm đó lại trở thành nền móng đầu tiên: nó cho thấy cậu bé có một bản năng hiếm có về việc tạo ra sản phẩm công nghệ có thể giải quyết vấn đề thực tế.

Sự nhạy bén ấy tiếp tục đưa Henrique gặp Pedro Franceschi, một tài năng trẻ người Brazil khác, qua các diễn đàn công nghệ. Hai cậu thiếu niên nhanh chóng nhận ra mình có chung một năng lượng sáng tạo và chung một triết lý làm sản phẩm: công nghệ phải giải quyết “nỗi đau” thực sự của thị trường. Từ đó, họ cùng nhau tạo ra Pagar.me, một nền tảng xử lý thanh toán trực tuyến dành cho thị trường Brazil.

Pagar.me thành công lớn, trở thành một trong những startup thanh toán đáng chú ý nhất tại Brazil thời điểm đó. Nhưng đối với Henrique, đây mới chỉ là bước chạy đà. Cậu bán lại công ty và nhập học Stanford, nơi định mệnh sắp xếp cho cậu tìm được cơ hội lớn nhất đời mình.

Dù vậy, Stanford chỉ giữ chân Henrique trong vài tháng. Khi Y Combinator (vườn ươm startup quyền lực nhất thế giới) nhận ra khả năng của hai chàng trai Brazil và mời họ tham gia chương trình, Henrique lập tức đưa ra quyết định liều lĩnh mà nhiều người lớn tuổi hơn phải cân nhắc rất lâu: bỏ học đại học, dấn thân hoàn toàn vào khởi nghiệp. Quyết định ấy không chỉ là một bước ngoặt cá nhân, mà còn trở thành lựa chọn chứng minh rằng Henrique chấp nhận đánh cược toàn bộ tuổi trẻ vào một tham vọng mà cậu tin là mình sẽ làm được.

Và điều đó dẫn đến sự ra đời của Brex, một trong những công ty fintech (công nghệ tài chính) có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất lịch sử Thung lũng Silicon.

Startup không chỉ cần một ngân hàng. Họ cần những công cụ giúp họ chạy nhanh hơn”.
Henrique làm nên phép màu của Brex

Tư duy khác biệt làm nên “phép màu” Brex

Tài năng của Henrique Dubugras không nằm ở khả năng viết code, dù đó là nền tảng vững chắc. Điều khiến Henrique trở thành một “hiện tượng” thực sự chính là cách anh nhìn vào những rào cản trong hệ thống tài chính truyền thống và phát hiện khoảng trống mà người khác bỏ qua.

Ngay từ những ngày đầu tiên bắt đầu cuộc sống startup tại Mỹ, Henrique và Pedro đã gặp phải vấn đề mà hầu hết startup non trẻ đều quen thuộc: rất khó để mở một tài khoản doanh nghiệp hay xin cấp hạn mức thẻ tín dụng từ ngân hàng truyền thống. Các ngân hàng thường dựa vào lịch sử tín dụng (credit history) và tài sản đảm bảo (collateral) để quyết định hạn mức thẻ. Nhưng startup thì không có lịch sử tín dụng và cũng không có tài sản đáng kể. Họ có tương lai hứa hẹn, nhưng ngân hàng không đánh giá tương lai mà ngân hàng chỉ nhìn vào quá khứ. Henrique muốn thay đổi điều đó.

Bằng cách sử dụng mô hình phân tích rủi ro dựa trên dữ liệu thời gian thực, một hướng đi mới trong fintech, Brex không nhìn vào lịch sử tín dụng của CEO hay tài sản công ty, mà nhìn vào dòng tiền hiện tại, tốc độ tăng trưởng doanh thu, tỷ lệ burn rate (tốc độ tiêu tiền) và khả năng gọi vốn của startup.

Burn rate, một thuật ngữ tài chính chỉ số tiền một startup tiêu mỗi tháng, là yếu tố cực kỳ quan trọng để đánh giá sức khỏe của doanh nghiệp khởi nghiệp. Trong khi ngân hàng truyền thống không có khung phân tích phù hợp cho mô hình tăng trưởng nhanh của startup, Brex lại thiết kế hệ thống riêng, cho phép cấp hạn mức tín dụng dựa trên tương lai gần thay vì quá khứ xa.

Sự khác biệt ấy biến Brex thành “người mở khóa” cho giới startup. Ngay lập tức, các công ty trẻ đổ xô đăng ký. Họ không chỉ nhận được thẻ tín dụng không cần tài sản đảm bảo, mà còn cả hệ sinh thái quản trị chi phí, quản lý dòng tiền và các công cụ tài chính dành riêng cho công ty công nghệ cao. Những thứ mà ngân hàng truyền thống thường không ưu tiên, Brex biến thành tiêu chuẩn.

Tư duy tài chính của Henrique mang tính đổi mới sâu sắc: Anh đưa ra một mô hình tín dụng phù hợp với nền kinh tế khởi nghiệp, nơi tốc độ tăng trưởng quan trọng hơn lịch sử và dữ liệu thời gian thực giá trị hơn số liệu kế toán của năm trước.

Brex nhanh chóng trở thành “chuẩn mực mới” trong fintech. Chỉ sau vài năm, công ty đạt mức định giá 12,3 tỷ USD (năm 2022). Henrique khi đó chỉ mới giữa tuổi 20 nhưng đã sở hữu tài sản ước tính khoảng 430 triệu USD (theo New York Times). Đây là con số phản ánh không chỉ thành công về mặt tài chính, mà còn vị thế của anh trong hệ sinh thái startup toàn cầu.

Sự già dặn trong tư duy tài chính của Henrique không đến từ trường lớp mà đến từ sự quan sát sâu sắc và khả năng “dịch” những vấn đề phức tạp thành giải pháp đơn giản. Anh hiểu rõ giới startup muốn điều gì vì bản thân anh cũng là một trong số họ.

Bộ đôi này đã có những quyết định liều lĩnh
với sự nghiệp
  • Sinh năm 1995, Sao Paulo, Brazil
  • Bắt đầu lập trình từ 12 tuổi
  • Đồng sáng lập Pagar.me (2013), Brex (2017)
  • Chức vụ hiện tại: Chủ tịch điều hành Brex
  • Thành viên HĐQT: Expedia Group, Mercado Libre
  • Định giá Brex cao nhất: 12,3 tỷ USD (2022)
  • Tài sản cá nhân (ước tính theo NYT): ~430 triệu USD
  • Có mặt trong danh sách “Top 30 tỷ phú dưới 30 tuổi của Forbes” ở cả Mỹ và Brazil
  • Một trong những founder fintech trẻ nhất có công ty định giá >10 tỷ USD
  • Được Y Combinator dùng làm “case study” về tăng trưởng fintech B2B
  • Thường xuyên xuất hiện tại Milken Institute, Bloomberg Live, hội nghị fintech toàn cầu
  • Thuộc thế hệ doanh nhân công nghệ trẻ đang định hình tiêu chuẩn mới cho ngành tài chính doanh nghiệp

Nhà lãnh đạo định hình tương lai tài chính

Ngày nay, Henrique Dubugras không chỉ được biết đến như đồng sáng lập Brex, mà còn như một gương mặt trẻ có ảnh hưởng thực sự trong tài chính toàn cầu. Ở tuổi chưa tròn 30, anh đã góp mặt trong hội đồng quản trị Expedia Group và Mercado Libre, những tập đoàn hàng đầu trong lĩnh vực du lịch trực tuyến và thương mại điện tử Mỹ Latinh. Điều đó cho thấy Henrique không chỉ giỏi làm startup; anh có tầm nhìn đủ sâu để đồng hành cùng các doanh nghiệp quy mô hàng chục tỷ USD.

Trên thị trường tài chính, mô hình mà Brex tạo ra đã thúc đẩy sự thay đổi dây chuyền. Các ngân hàng bắt đầu xem xét lại cách họ đánh giá tín dụng doanh nghiệp. Các fintech khác học theo mô hình “dựa trên dữ liệu thời gian thực” thay vì “dựa trên lịch sử cũ”. Và hàng loạt startup mới, từ AI đến biotech, được tiếp cận vốn đơn giản hơn nhờ hạ tầng do Brex mở ra.

Henrique đóng vai trò như một đại diện của thế hệ doanh nhân mới, thế hệ hiểu rằng tài chính không thể giữ nguyên mô hình cũ trong một thế giới thay đổi từng ngày. Và Fintech, ngành kết hợp giữa “finance” (tài chính) và “technology” (công nghệ), giúp tạo ra những dịch vụ giúp tối ưu hóa dòng tiền, tăng tốc nạp vốn, giảm chi phí vận hành tài chính của doanh nghiệp. Trong bức tranh ấy, Brex trở thành biểu tượng của một hướng tiếp cận mới: dịch vụ tài chính không phải là thứ cứng nhắc, mà là hạ tầng mềm có thể tùy biến theo nhu cầu của từng nhóm khách hàng.

Tầm ảnh hưởng của Henrique còn thể hiện ở cách anh thúc đẩy tư duy “tăng trưởng bền vững” cho giới khởi nghiệp. Trong thời kỳ thị trường biến động mạnh từ năm 2022-2024, khi dòng vốn đầu tư mạo hiểm (venture capital) giảm tốc, Brex vẫn giữ vị thế nhờ tối ưu hóa sản phẩm và mở rộng sang các nhóm khách hàng lớn hơn như doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc các công ty công nghệ đang mở rộng thị trường.

Henrique cũng không ngần ngại chia sẻ kinh nghiệm, đặc biệt là về việc điều hành doanh nghiệp trong điều kiện khó khăn kinh tế vĩ mô. Anh từng nhấn mạnh rằng: “Startup không thể chỉ dựa vào huy động vốn. Bạn cần quản lý tiền hiệu quả và đó là lý do Brex tồn tại”.

Câu nói ấy thể hiện rõ triết lý mà Henrique theo đuổi: tài chính không chỉ là phép toán, mà là chiến lược sống còn của mọi doanh nghiệp. Với vai trò người kiến tạo, Henrique không chỉ xây dựng công ty, anh xây dựng nền tảng giúp các công ty khác tồn tại và phát triển. Đó là giá trị dài hạn của những doanh nhân thực sự ảnh hưởng đến ngành tài chính.